Sản phẩmTin hot

Những ai nên treo tranh Quan Công

Quan Công là ai? – Tranh vẽ Quan Công

Tranh vẽ Quan Công – Quan Vũ (160 – 220) là một danh tướng sống ở cuối nhà Đông Hán. Thời Tam Quốc. Tên chữ của ông là Trường Sinh, sau đổi thành Vân Trường, sinh ra và lớn lên tại Giải Lương, Hà Đông (nay là Vân Thành, tỉnh Sơn Tây). Ông là người đã góp công lớn vào việc thành lập nhà Thục Hán. Đồng thời cũng là anh em kết nghĩa với hoàng đế Lưu Bị và danh tướng Trương Phi.

Tranh vẽ Quan Công
Tranh vẽ Quan Công

Được tôn sùng là bậc “Võ Thánh” nhưng không hiểu từ bao giờ Quan Vân Trường lại trở thành Thần tài được các thương nhân thờ cúng xin lộc. Nhưng câu chuyện đằng sau thật ra lại tiết lộ một khía cạnh khác của đạo đức kinh doanh.

Sau khi Quan Vũ chết, dần dần được Thần thánh hóa và được nhân dân tôn kính gọi là “Quan Công” còn được gọi là Mỹ Nhiêm công. Trong lịch sử các triều đại có rất nhiều tên gọi qua các triều đại. Thời nhà Thanh ông được gọi là “Trung Nghĩa thần Vũ, Linh Hữu Nhân Dũng, Uy Hiểm Quan Thánh đại đế”.

Tham khảo thêm: Tranh Trương Phi

Liên hệ đặt tranh – Tranh vẽ Quan Công

Hiephoitranhviet.com

Hotline: 0967.491.113Cao Hữu Toàn

Khách hàng có thể liên hệ trực tiếp hoặc zalo để trao đổi. Tranh có thể vẽ theo kích thước theo ý khách hàng.


Quan Vũ xuất thân từ võ tướng, không làm ăn kinh doanh, vậy thì tại sao lại trở thành Thần tài?

Trong Tam Quốc diễn nghĩa có một đoạn nói về câu chuyện “Quan Vân Trường treo ấn phong kim”. Sau khi bị Tào Tháo đánh bại ở Từ Châu, Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi ly tán. Lưu Bị một mình đến Hà Bắc nhờ cậy Viên Thiệu. Tào Tháo dùng mưu chiếm lấy Hạ Phì, vây khốn Quan Vũ trên một núi đất. Phái Trương Lưu, người có quan hệ thân thiết với Quan Vũ đến khuyên ông ta đầu hàng. Quan Vũ đưa ra ba điều kiện: Một là chỉ đầu hàng Hán Hiến Đế mà không đầu hàng Tào Tháo. Hai là hai vị phu nhân của Lưu Bị phải được phụng dưỡng và tôn trọng. Ba là khi biết được tung tích của huynh trưởng Lưu Bị sẽ lập tức rời đi. Ba điều kiện này thiếu một cũng không được.

Hán Hiến Đế còn bổ nhiệm ông làm Thiên tướng quân. Sau đó, Tào Tháo giao đấu với Viên Thiệu. Khi Tào Tháo gặp thất bại nặng nề trước Viên Thiệu. Quan Vũ muốn lên chiến trường nghênh chiến, nhưng Tào Tháo không muốn dùng Quan Vũ. Ông ta sợ khi Quan Vũ lập được công rồi thì sẽ rời đi. Tuy vậy, tình hình ngày càng trở nên trầm trọng, Tào Tháo đành phải để cho Quan Vũ lên chiến trường. Quan Vũ chặt đầu tướng Nhan Lương của Viên Thiệu. Giúp Tào Tháo giải vòng vây, lập được đại công. Khi Tào Tháo lên triều đã dâng biểu và lập Quan Vũ là Hán Thọ Đình Hầu, còn làm riêng cho Quan Vũ một con ấn.

Thời còn nương nhờ Tào Tháo – Tranh vẽ Quan Công

Sau này, khi biết được tin tức của Lưu Bị, Quan Vũ liền từ biệt Tào Tháo để ra đi. Vàng bạc mà mình được nhận từ trước đến nay cùng con dấu lớn Hán Thọ Đình Hầu. Rồi đặt trong sảnh chính và rời đi. Đó là tích “Treo ấn phong kim” nổi tiếng muôn đời. “Treo ấn” có nghĩa rời bỏ chức vụ, từ quan. “Phong kim” là đem tất cả vàng bạc tiền tài niêm phong lại, có ý không muốn tiếpnhận.

Làm ăn kinh doanh, coi trọng nhất là hai chữ thành tín. Khi Quan Vũ ở chỗ của Tào Tháo vẫn không quên Lưu Bị. Lúc nào cũng chuẩn bị rời đi, đối với Lưu Bị trung thành tuyệt đối. Dù được Tào Tháo thưởng tiền vàng, Quan Vũ vẫn ý thức rằng không nên chấp nhận sự giàu có bất chính. Khi rời đi, ông để lại tất cả tiền vàng và con dấu, hơn nữa việc thả Tào Tháo sau này cũng là đối với Tào Tháo giữ tín nghĩa. Tinh thần này rất được tôn sùng trong thương đạo.

Tương truyền về khả năng quản lý tài chính của Quan Vũ

Tương truyền, Quan Vũ rất giỏi quản lý tài chính, đặc biệt giỏi về kế toán. Khi còn ở chỗ Tào Tháo, biết rằng bản thân sẽ không ở lại Tào doanh mãi. Vì thế khi rời Tào doanh tìm Lưu Bị, vì không muốn để lại những tin đồn không rõ ràng. Quan Vũ ghi chép tất cả những gì Tào Tháo tặng vào một quyển sổ ghi chép với bốn mục chính: Vốn có, thu, xuất, và tồn. Khi ông rời đi đã giao lại quyển sổ ghi chép cho Tào Tháo, rất rõ ràng từng mục có thể nhìn rõ trong nháy mắt. Được những thương gia đời sau sử dụng rộng rãi và nó cũng được gọi là “Thương dụng bác ký pháp”.

Nhân gian cũng lưu truyền rằng, bàn tính được phát minh bởi Quan Vũ. Nhưng điều này mới chỉ là tương truyền chưa có kiểm chứng. Các thương nhân cổ đại đều rất chú ý đến sự an toàn, mà Quan Vũ được gọi là thánh võ. Ông có gương mặt nghiêm túc, đôi mắt có thần, ngón tay nắm chắc Thanh long đao. Oai phong lẫm liệt, rất hợp để làm Thần hộ thân.

Uy trấn Quan Vũ – Tranh vẽ Quan Công

Dần dần Quan Vũ được thương gia thờ cúng, xin bảo hộ, phát tài. Nên ông trở thành vị Thần hộ vệ cho các thương gia, sau này phát triển thành Thần tài của mọi tầng lớp. Có hai loại tượng Quan Công, một loại có lưỡi đao hướng lên trên. Loại kia có lưỡi đao hướng xuống dưới. Lưỡi đao hướng lên trên là biểu thị cho lòng trung thành của Quan Công. Lưỡi đao hướng xuống dưới biểu thị cho sự giàu có.

Cũng trong đời Càn Long, có lời đồn rằng chính Quan Vũ hiển linh giúp quân Thanh thắng giặc. Vì vậy triều Thanh đã phong ông là Trung Nghĩa Thần Võ Linh Hựu Nhân Dũng Uy Hiển Quan Thánh Đại Đế. Đồng thời tôn vinh là Võ Thánh, tức là ngang hàng với danh xưng Văn Thánh của Khổng Tử.

Các triều đại phong kiến Trung Quốc cũng nhiều lần ca tụng và phong tặng những mỹ từ dành cho Quan Vũ. Vua nhà Minh coi ông là vị thần hộ quốc. Ngay từ thời Đường, ông đã được thờ trong võ miếu, bên cạnh danh tướng nhà Chu là Khương Tử Nha. Không những thế, hình tượng Quan Vũ còn được thờ cúng phổ biến trong Phật giáo. Tạng truyền vùng Tây Tạng. Ông được truy phong là Gia Khâm hộ pháp Quan Vân Trường.

Tranh vẽ Quan Công
Tranh vẽ Quan Công

Hình tượng Quan Công trong dân gian

Quan Vũ còn được dân gian thờ phụng như Thần hộ mệnh. Giới thương nhân coi ông như thần tài. Tầng lớp nho sĩ coi ông như thần văn học (tượng Quan Vũ trên 1 tay có cầm Kinh Xuân Thu). Giới quân sự coi ông như vị thần bảo vệ bản mệnh. Các đao phủ thường giấu đao trong đền thờ ông. Vì họ cho rằng uy linh của ông sẽ ngăn trở oan hồn về báo oán.

Đó là những quan niệm được sinh ra cho phù hợp với tư tưởng của những đối tượng khác nhau. Người buôn bán quan tâm đến tiền, phong ông là tài thần. Tầng lớp Nho sĩ quan tâm đến tri thức thì phong ông làm thần văn học. Còn nói về hình tượng chân thực mà ông để lại cho hậu thế. Chỉ là 2 chữ ‘trung nghĩa’ của một võ tướng kiệt xuất thời Tam Quốc, sáng chói trong lịch sử Trung Hoa.

tranh vẽ Quan Công
tranh vẽ Quan Công

Ý nghĩa ban đầu của việc thờ ông có lẽ là vì sự kính ngưỡng chữ Tín, chữ Nghĩa của một bậc chính nhân quân tử. Để nhắc nhở người làm ăn dù bán buôn cũng phải luôn tôn trọng Tín Nghĩa. Về sau này, khi đạo đức nhân loại dần suy đồi, người ta đặt danh lợi lên trên hết. Nên thờ phụng Quan Vũ như Thần tài bảo hộ cho lợi ích làm ăn của mình.

Chữ ” NGHĨA ” trong Tam Quốc

Nội hàm thâm sâu của chữ “Nghĩa”
Nghĩa theo cách lý giải thông thường nhất chính là lẽ phải làm người. Người sống trên đời không thể không tuân theo đạo lý ấy.

Tranh vẽ Quan Công
Tranh vẽ Quan Công

Người có nghĩa khí lại không phải chỉ là hạng vũ dũng tầm thường. Thấy điều chướng tai gai mắt liền ra tay can thiệp. Đó phải là người có khí chất phi phàm, hành sự đường đường chính chính. Gặp nguy nan không lay chuyển ý chí, có việc đắc ý cũng chẳng hoan hỉ chủ quan. Dẫu ở vị trí nào, họ cũng làm tròn nghĩa vụ, duy trì chính nghĩa. Dám làm dám chịu, vì đảm đương việc nghĩa lớn mà không hề trốn tránh trách nhiệm.

NGHĨA – Tranh vẽ Quan Công

Nghĩa cũng là cơ sở cho các mối quan hệ thời cổ đại như: vua tôi, vợ chồng, bằng hữu, thầy trò, huynh đệ… Mỗi người đều là ở vị trí của chính mình mà điều hòa thật tốt mối quan hệ với người khác. Tuân theo đạo nghĩa và trách nhiệm của mình. Ví như, cái nghĩa của bậc quân vương là “nhân nghĩa”, cái nghĩa của bề tôi là “trung nghĩa”. Cái nghĩa giữa vợ chồng là “tình nghĩa”, cái nghĩa giữa anh em, bạn bè là “tín nghĩa”. Xã hội truyền thống đều là nhất loạt tuân theo cách hành xử ấy. Sự vô tư, vị tha, lãnh trách nhiệm và phụng sự cái chung.

Tranh vẽ Quan Công - Tranh kết nghĩa vườn đào
Tranh vẽ Quan Công – Tranh kết nghĩa vườn đào

Cổ nhân nói: “Huynh đạo hữu, đệ đạo cung”, tức là: đạo của anh là yêu thương, đạo của em là cung kính. Người làm anh phải dùng tình yêu thương mà bao dung, dạy dỗ, bảo vệ kẻ dưới. Đổi lại, người làm em cũng cần phải khiêm nhường, cung kính, phải hiểu được nỗi lo trong lòng huynh trưởng. Luận về điểm này, chuyện kết nghĩa của ba anh em Lưu, Quan, Trương có phải chỉ là tình nghĩa huynh đệ đơn thuần chăng?


Nghĩa anh em hòa cùng nghĩa quân thần

Chúng ta đều biết, “Tam Quốc diễn nghĩa” thuật lại cuộc tranh đoạt thiên hạ của 3 nước lớn Ngụy – Thục – Ngô. Từ lúc mới hình thành cho đến khi diệt vong. Trong khoảng 100 năm đó, có biết bao đế vương, thần tử, hào kiệt, anh hùng, mĩ nhân, đại tướng. Thực là cùng nhau diễn một màn kịch lớn của chữ “Nghĩa”. Nhà Hán nghiêng đổ, các lộ chư hầu nổi lên cát cứ, tranh hùng khắp nơi như ong vỡ tổ. La Quán Trung đặt nhân vật của mình trong thời loạn thế đó mà tường tận miêu tả nổi bật lên tính cách, phẩm giá, lựa chọn của từng người.

tranh Tào Tháo

Giữa nhiễu nhương thời cuộc, đối mặt với quyền lực, tài phú, người ta sẽ có những lựa chọn khác nhau. Mỗi người đều chẳng cùng chí hướng, cũng không có phẩm hạnh giống nhau. Từng quyết định đưa ra đều là kiểm nghiệm sâu sắc với lòng người, đều là lựa chọn thiện – ác. Cuối cùng chính là đặt định vị trí cho mình là chính nghĩa hay bất nghĩa. Tức là tất cả đều được bao trùm bởi một chữ “Nghĩa” này.

Chữ NGHĨA trong thời loạn – Tranh vẽ Quan Công

Các lộ anh hùng cũng không ngừng giao phong, va chạm, “diễn” hết mình trên sân khấu Thần Châu. Rốt cuộc, theo dòng nước Trường Giang cuồn cuộn chảy về đông. Những ai là thực lòng báo quốc an dân, những ai bề ngoài hô hào chính nghĩa mà bên trong chứa đầy tư lợi. Thừa dịp loạn mà mưu cầu quyền thế… tất cả đều hiện lên rõ mồn một trước mặt độc giả, sống động vô cùng. Đọc hết “Tam Quốc diễn nghĩa”, dù có thể hay không thể nói nên lời, người ta vẫn cảm giác được một cách đầy đủ. Cụ thể của hai khái niệm: “nghĩa” và “bất nghĩa”.

Tranh vẽ Quan Công
Tranh vẽ Quan Công

Mở đầu “Tam Quốc diễn nghĩa” là câu chuyện kết nghĩa đào viên. Như vậy nhân vật chính yếu nhất hẳn phải là ba anh em: Lưu Bị, Quan Vũ, Trương Phi. Ba người tuy là ba cá thể với ba tính cách khác nhau nhưng cũng chính là “tam vị nhất thể”. Lưu Bị chính là thủ lĩnh, là “bộ óc” định ra phương sách hoạt động cho ba anh em. Quan Vũ và Trương Phi chính là hai cánh tay trái phải phụ tá đắc lực cho Lưu Bị trên đường dựng đại nghiệp. Ba người họ luôn là như thế này xuất hiện cùng nhau: Lưu Bị đi giữa, bên tả có Quan Vũ, bên hữu có Trương Phi luôn theo sát hầu cận như hình với bóng.

Tranh Quan Công trị thương

Tình huynh đệ Lưu – Quan – Trương

Cái nghĩa của Lưu, Quan, Trương ba người không chỉ đơn giản là “tín nghĩa” huynh đệ. Mà còn là cái nghĩa quân thần, vua tôi đồng tâm đồng đức. Lưu Bị dù phải bôn ba nửa đời người không một mảnh đất cắm dùi. Nhưng chưa bao giờ quên hai chữ “nhân nghĩa”, yêu thương muôn dân, kính trọng hiền sĩ. Đó chính là cái “nhân nghĩa”, cái khoan dung, độ lượng của một bậc quân vương. Quan Vũ, Trương Phi dù có lúc binh bại rơi thế đường cùng nhưng trước sau như một, lòng trung chẳng đổi.

Như thế có thể thấy, dưới ngòi bút của La Quán Trung, Lưu Bị là hình tượng diễn giải khía cạnh “nhân” của chữ “Nghĩa”. còn Quan Vũ hay Trương Phi là hình tượng diễn giải khía cạnh “trung” của chữ “Nghĩa”. Còn giữa Quan Vũ và Trương Phi, đương nhiên là cũng có sự thể hiện khía cạnh “tín” của chữ “Nghĩa”. Hãy nhớ lại lúc Trương Phi hiểu lầm Quan Vũ ở Cổ Thành, thậm chí còn mang cả bát xà mâu ra đánh lại “nhị ca” của mình.

Quan Vũ cuối cùng đã phải chém đầu tướng Tào là Sái Dương để hóa giải hiểu lầm đó. cũng là lấy lại cái “tín nghĩa” của tình huynh đệ kết nghĩa vườn đào năm xưa. Đương nhiên dù là nhân nghĩa, trung nghĩa hay tín nghĩa thì cũng khó mà tách bạch ra để coi xét, phân biệt thật chi li, cụ thể. Bởi nội hàm của “Nghĩa” rất rộng lớn, bao trùm tất cả dù là trung, nhân hay tín.

Tranh vẽ Quan Công
Tranh vẽ Quan Công

Chữ NGHĨA – Tranh vẽ Quan Công

Ở đây cũng cần bàn thêm một điểm nữa, trong tiểu thuyết dường như hình tượng một Lưu Bị bụng đầy nhân nghĩa được xây dựng để đối lập với một Tào Tháo bị miêu tả như một gian hùng. Nếu ta nghiêm túc nhìn nhận, đánh giá từ những dữ kiện lịch sử chân thực. Quả thực Tào Tháo đã phải chịu thiệt thòi không ít.

Trong lịch sử, Tào Tháo cũng nổi tiếng là một quân chủ đầy lòng nhân nghĩa, khoan dung (không nhân nghĩa thì chắc chắn không thể ngồi vào ghế vương hầu được). Cho nên tiểu thuyết là có pha thêm rất nhiều phần gia công nghệ thuật bên trong. Đọc rồi thì là đọc thôi, chớ nên câu nệ vào các tình tiết bên trong mà làm sai lệch lịch sử chân thực.

Ngay chính hình tượng Lưu Bị trong Tam Quốc diễn nghĩa cũng không hẳn đúng với nguyên gốc lịch sử ngoài đời. Nhưng ta hiểu mục đích lớn nhất của La Quán Trung khi nhào nặn hệ thống nhân vật. Trong tiểu thuyết này chính là muốn trừ ác dương thiện, tô đậm cho một chữ “Nghĩa” kia mà thôi.

SƯU TẦM

Related Articles

Back to top button