Sản phẩmTin hot

Tranh Tam Cố Thảo Lư

Tam Cố Thảo Lư hay 3 lần đến lều cỏ là điển tích trong Tam Quốc Diễn Nghĩa. Vẫn thường được người đời nhắc tới như minh chứng về sự thành tâm thành ý đối với hiền tài của người lãnh đạo có tầm nhìn.

Bên cạnh đó, câu chuyện Lưu Bị chiêu mộ Gia Cát Lượng cũng để lại nhiều bài học sâu sắc dành cho những các nhà quản lý trên phương diện tuyển dụng nhân tài.

Tranh Tam Cố Thảo Lư

Tại sao có tích Tam Cố Thảo Lư

Trong “Tam Quốc diễn nghĩa”, Lưu Bị là bậc hiền sỹ luôn trọng dụng và cầu khát hiền tài. Từ Thứ vì trân trọng tấm lòng của Lưu Bị nên đã tiến cử Gia Cát Lượng cho ông. Từ Thứ nói:
– Trong vùng này có một bậc kỳ tài ở tại Long Trung, cách Tương Dương hai mươi dặm. Nếu được người đó, không khác gì nhà Chu được Lã Vọng nhà Hán được Trương Lương.

Lưu Bị hỏi:
– Tài đức người đó so với tiên sinh thế nào
Từ Thứ đáp:
– Tôi mà so với người đó, khác nào ngựa hèn sánh với kỳ lân, quạ đen sánh với phượng hoàng. Người đó thường ví mình với Quản Trọng, Nhạc Nghị. Cứ như ý tôi, Quản, Nhạc còn kém xa. Người đó có tài ngang trời dọc đất, thiên hạ chắc chỉ có một không hai.
“Bậc kỳ tài” mà Từ Thứ nhắc đến chính là Khổng Minh Gia Cát Lượng, từng được Tư Mã Huy ca ngợi là “có thể sánh ngang với Khương Tử Nha làm nên cơ nghiệp 800 năm của nhà Chu và Trương Tử Phòng làm nên cơ nghiệp 400 năm của nhà Hán”

Tam Cố Thảo Lư vẽ thủy mặc

Thời ấy, các bậc danh sĩ ở Kinh Châu lan truyền một câu nói: “Ngọa Long (ý chỉ Gia Cát Lượng) và Phượng Sồ (ý chỉ Bàng Thống), ai có được một trong hai người ấy sẽ có cả thiên hạ!”. Và quả thật, Lưu Bị nhờ có Gia Cát Lượng mà có thể tay trắng gây dựng sơn hà, nhưng đó là chuyện sau này. Còn hôm nay, sau lời tiến cử của Từ Thứ, Lưu Bị vì muốn thuyết phục Gia Cát Lượng. Lưu Bị không ngần ngại ba lần tới lều tranh cầu kiến, trở thành điển cố “tam cố mao lư” nổi tiếng sau này.

Lưu Bị 3 lần đến lều cỏ cầu hiền

Trước hết, vì sao phải là ba lượt đến lều tranh mới gặp được bậc đại hiền? Con số ba trong văn hoá truyền thống phương Đông có nội hàm sâu sắc. Ví như Phật gia giảng “tam giới” gồm dục giới, sắc giới và vô sắc giới; “tam bảo” là Phật, Pháp, Tăng. Nho gia giảng “tam tài” là Thiên, Địa, Nhân; “tam cương” là ba mối quan hệ luân thường quan trọng giữa vua tôi, cha con, vợ chồng. Còn trong Đạo gia, số ba là số sinh, những số khác đều từ đó mà sinh ra: “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật”.

Tranh vẽ tích Tam Cố Thảo Lư

Như vậy, ba lần Lưu Bị đến lều cỏ để yết kiến Khổng Minh. Phải chăng là biểu tượng của hành trình đằng đẵng gian nan. Tựa như hành trình người tu luyện Phật gia vượt ra ngoài tam giới. Người quân tử Nho gia đạt đến chữ “Nhân”, làm trọn đạo tam cương ngũ thường?

Hành trình gian khó tới lều cỏ cầu hiền

Thực tế là trong Tam quốc diễn nghĩa, số ba nhiều lần xuất hiện, ví như hồi thứ 12: “Đào Cung Tổ ba lần nhượng Từ Châu”, hồi thứ 39: “Thành Kinh Châu, công tử ba lần cầu kế”, hồi thứ 56: “Khổng Minh ba lần trêu tức Chu Du”… Những việc khó khăn, dường như đều phải ba lần gắng công thì mới thành được. Ba lượt “nằn nì thăm coi” ấy của Lưu Bị cũng là để bày tỏ tấm lòng thành của ông, để thành tựu cái tâm Đại Nhẫn của Huyền Đức.

Tư Mã Huy từng ví tài của Khổng Minh sánh với Khương Tử Nha dựng nghiệp 800 năm nhà Chu. Cũng như Trương Tử Phòng làm nên cơ nghiệp 400 năm của nhà Hán. Mà Trương Lương nhờ ba lần nhặt giày giúp Hoàng Thạch Công ở cầu Dĩ. Nhờ đó mới được truyền dạy kỳ thư, nhờ đó có thể phò tá Lưu Bang dẹp yên thiên hạ. Lưu Bị bấy giờ muốn phục hưng Hán thất. Nếu chẳng đủ ba lượt hạ cố lều tranh thì sao có thể cầu được bậc đại hiền đây

Cầu liệu có được trong Tam Cố Thảo Lư

Cầu mà được thì ai cũng cầu, nhưng làm thế nào để cầu được hiền.

Trước lần thứ hai thăm lều cỏ, “Trương Phi nói:
– Khổng Minh chỉ là một tên thôn phu quèn, hà tất đại ca phải thân đến. Cứ sai người đi gọi cũng được.
Huyền Đức mắng rằng:
– Em há không nhớ lời Mạnh Tử nói: ‘Muốn cầu người hiền mà không biết đạo, khác gì muốn cho người ta vào nhà mình mà lại đi đóng cửa lại’. Khổng Minh là bậc đại hiền thời nay, cho đi gọi sao được?”

Và lần thứ ba, Lưu Bị đến đúng lúc Khổng Minh đang ngủ, ông không nôn nóng để tiểu đồng đánh thức Ngọa Long tiên sinh, mà cung kính nhẫn nại chắp tay đứng hầu ngoài cửa, đến tận khi Khổng Minh tỉnh giấc. Trong khi đó, Trương Phi đã tức đến độ muốn “ra sau nhà cho một mồi lửa, xem nó có phải dậy không?” rồi.
Lưu Bị chắp tay đứng hầu ngoài cửa, chờ tới khi Khổng Minh thức giấc
Lưu Bị nhân từ, khiêm nhượng, bao dung như vậy, nên lòng dân hướng về ông, Gia Cát Lượng một đời cúc cung tận tụy phò tá ông, ngay cả khi ông đã mất.

Vất vả 3 lần đến cầu hiền – cầu đức

Điển cố Tam cố thảo lư không chỉ sâu sắc về đạo lý, mà còn tuyệt đẹp về văn chương. Ở đầu bài viết, ta đã thấy khúc “Lương Phủ Ngâm” quả là trong thơ có hoạ, có nhạc, có cả nỗi niềm kín đáo sâu xa. Trong suốt câu chuyện Ba lần thăm lều cỏ là những nét chấm phá nên thơ tuyệt diệu, có gần có xa, mà ẩn dụ phía sau thật khiến người đời phải suy ngẫm.

Hành trình 3 lần đến lều tranh Khổng Minh

Lần 1: Ra về vì không gặp được Khổng Minh

Lần đầu tiên Huyền Đức tới thăm Khổng Minh, phong cảnh Long Trung đẹp như một bài thơ, tựa chốn bồng lai tiên cảnh:
“Cách hai mươi dặm Tương Dương thành
Một dãy gò cao, suối lượn quanh…
Nước chảy ầm ầm phơi đá trắng
Gò cao chót vót ngất mây xanh”.

Thế nhưng hành trình tu luyện vốn là chịu khổ, “xông pha mưa gió”. Chẳng mấy chốc mà khảo nghiệm ập đến, như mùa đông giá rét “vướng mặt tơi bời hoa liễu rơi”. Trong ma nạn nhiều lúc đau xót tim gan. Cảm giác “lững thững về suông dạ cảm hoài” đã bao lần nếm trải. Con đường tu luyện dằng dặc, “lạnh lùng yên ngựa dặm đường dài”, Đạo kia vẫn ở xa vời, biết ngày nào thành tựu?
Người xưa giảng “Vật cực tất phản”, “Bĩ cực thái lai”. Ai có thể nhẫn nại vượt qua mùa đông giá rét ắt sẽ thấy được mùa xuân ấm áp.

Đến và ra về nhanh chóng vì đúng thời điểm Khổng Minh chu du thiên hạ, không có nhà. Được những người thân của Khổng minh và nông phu trên núi khuyên nên từ bỏ ý định. Vì Khổng Minh không muốn xuống núi.

Lần 2: Không gặp được Khổng Minh, Lưu Bị có gửi lại bức thư

Sau khi Lưu Bị đến Ngọa Long trang cầu kiến Gia Cát Lượng mà không gặp, từng để lại một phong thư. Trong thư Lưu Bị bày tỏ bản thân “ngưỡng mộ cao danh đã lâu”, thành ý “hai lần đến yết kiến đều không được gặp phải trở về, ân hận vô cùng”. Sau khi thuật lại chí hướng cả đời.

Lưu Bị hy vọng Gia Cát Lượng có thể xuống núi phụ tá. “trổ hết tài lớn của Lã Vọng, thi thố hết kế lạ của Tử Phòng”, cũng nói mình muốn sau khi “tắm gội ăn chay” lại tới thăm viếng. Tâm cầu hiền như khát nước hiện rõ trên giấy. Thân là hoàng thúc có thể chiêu hiền đãi sĩ như vậy, có thể nói là đã tận tình tận nghĩa rồi. Theo quan niệm của người đời, Gia Cát Lượng là nên vì được sủng ái mà lo lắng. Cần phải tự mình gặp hoàng thúc mới phải đạo.

Tuy nhiên, Gia Cát Lượng trong «Xuất sư biểu>>> lần thứ nhất có đưa ra lời giải thích đối với tâm tư của ông. Ông nói: “Thần xuất thân áo vải, cày cấy ở Nam Dương, chỉ cầu an toàn tính mệnh trong loạn thế, không cầu tiếng tăm nơi chư hầu”. Trong đó có hai chữ, sau khi tu luyện Đại Pháp mới làm tôi chú ý.

Lần 3: Ngọa Long Xuất Sơn

“Từ khi Huyền Đức về Tân Dã, ngày tháng thấm thoát đã sang xuân mới, liền sai người đem cỏ thi ra bói. Kén chọn ngày tốt, ăn chay ở sạch ba ngày, tắm gội hun hương, thay quần đổi áo, rồi sang gò Ngọa Long yết Khổng Minh”.

Lưu Bị trai giới ba ngày rồi mới đi gặp Khổng Minh, dường như đang muốn nói với người đời. Muốn cầu Đạo phải thuần tịnh cái tâm này, tâm thuần khiết mới có thể cầu được Đạo. Cuối cùng, chỉ sau cuộc chuyện trò ngắn ngủi với Ngọa Long, Lưu Bị đã “như gạt đám mây đen trông thấu đến trời xanh”. Gia Cát Lượng chưa ra khỏi lều tranh mà đã biết tình thế thiên hạ chia ba. Khiến Lưu Bị đang ở bước đường cùng, bỗng nhiên thấy cả chân trời trước mắt! Quả giống như câu thơ của Lục Du thời Nam Tống:
“Sơn trùng thủy phúc nghi vô lộ

Cuộc trò chuyện định mệnh trong Tam Cố Thảo Lư

Cảm động trước sự chân thành của Lưu Bị, Gia Cát Lượng nguyện dốc lòng phò tá.
Câu chuyện đến đó tưởng chừng kết thúc, nhưng khảo nghiệm vẫn đến ở cả phút cuối cùng.

“Huyền Đức vái mời Khổng Minh và nói:
– Bị tuy danh hèn đức kém, cũng xin tiên sinh chớ bỏ rơi kẻ ngu hèn này, xuống núi giúp đỡ, Bị xin chắp tay cúi đầu nghe lời dạy bảo.
Khổng Minh nói:
– Lượng này lâu nay quen tay cày tay cuốc, chểnh mảng việc đời, không thể vâng mệnh được.


Huyền Đức khóc nói:
– Tiên sinh không xuống núi giúp cho thì trăm họ sẽ ra sao?
Nói xong hai hàng nước mắt lã chã rơi thấm ướt cả vạt áo.
Khổng Minh thấy Lưu Bị quả là thành thật, liền nói rằng:
– Tướng quân đã không ruồng bỏ, Lượng này xin đem hết tài khuyển mã ra phò tá”.

Cái kết đẹp Tam Cố Thảo Lư

Nếu Lưu Bị không thành thật cầu hiền, ước muốn dẹp loạn yên dân. Thì sao có thể sa nước mắt, cảm động đến Khổng Minh? Cũng như người tu Đạo, nếu không thật lòng cầu Pháp, sao có thể cảm động đến Thần Phật, đắc được Đạo chân thật? “Khổng Minh mình cao tám thước, mặt đẹp như ngọc, đầu đội khăn lượt. Mình mặc áo cánh hạc, hình dáng thanh thoát như tiên”, vốn chẳng phải người thường.

Tam quốc diễn nghĩa bề mặt kể chuyện con người, mà bên trong ẩn chứa đạo của Trời. Văn hoá truyền thống giảng “Thiên nhân hợp nhất”, có lẽ là ở chỗ này vậy. Vị minh chúa ba lần cầu kiến bậc đại hiền. Câu chuyện đẹp không chỉ thay đổi cục diện của cả một thời đại, mà còn để lại khải thị cho người tu Đạo mai sau.

Liên Hệ Đặt Tranh

SĐT: 0967.491.113 – Zalo

Tranh đặt vẽ trước 4 – 7 ngày tùy kích thước và mẫu.

Tranh vẽ thủy mặc trên vài toa, kích thước có thể làm theo yêu cầu của quý khách.

Tham khảo thêm: Tranh Quan Công

Website: hiephoitranhviet.com

Related Articles

Back to top button